1. Diễn đàn Mnetgroup đang tuyển nhiều Mod cùng nhiều quyền lợi hấp dẫn. Bạn quan tâm thì xem tại đây nha: Tin tuyển Mod
    Dismiss Notice

Biến chứng của bệnh suy giãn tĩnh mạch

Thảo luận trong 'Sức khỏe' bắt đầu bởi vanxuan, 2/6/17.

  1. vanxuan

    vanxuan Thành Viên

    Giãn tĩnh mạch là biến chứng của suy van tĩnh mạch. Tức là sau một thời gian bị suy van tĩnh mạch, hiện tượng viêm và ứ trệ tuần hoàn trong lòng tĩnh mạch sẽ làm cho thành của các tĩnh mạch bị yếu đi và giãn lớn ra. Hệ thống tĩnh mạch ngoại biên của cơ thể con người bao gồm tĩnh mạch nông, tĩnh mạch sâu và tĩnh mạch xuyên có tác dụng nối hai tĩnh mạch nông và sâu lại với nhau.

    Nguyên nhân của bệnh giãn tĩnh mạch:

    Do tình trạng suy van tĩnh mạch và ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch cùng với hiện tượng viêm của thành tĩnh mạch. Bệnh này cũng có yếu tố di truyền, chẳng hạn như mẹ có thể di truyền cho con gái.

    Ngoài ra còn có một số yếu tố nguy cơ cao như:

    - Yếu tố gia đình:

    Tiền sử huyết khối tĩnh mạch sâu, thiểu năng van tĩnh mạch, khoảng 85.5% bệnh nhân mắc bệnh có liên quan yếu tố gia đình, nếu cả bố mẹ mắc bệnh giãn tĩnh mạch thì 90% con cái mắc bệnh giãn tĩnh mạch.

    - Cơ địa:

    Thời kỳ mang thai, béo phì thừa cân.

    - Yếu tố môi trường:

    Tính chất công việc phải đứng nhiều, ngồi lâu (giáo viên, nhân viên, văn phòng...); lối sống tĩnh tại, ít vận động; chế độ ăn thiếu chất xơ và vitamin E...

    [​IMG]

    Các triệu chứng sớm cũa bệnh suy tĩnh mạch mạn tính thường:

    - Mỏi chân, nhất là khi đi lại hay đứng nhiều.

    - Sưng phù mắt cá chân: phù xung quanh mắt cá và thấy rõ vào buổi tối. Khi thấy sưng phù, có thể bạn đã bị giãn tĩnh mạchvới biểu hiện là các đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên da.

    - Chuột rút về đêm.

    - Cảm giác như có kiến bò và ngứa chân.

    - Chân nổi gân xanh, cum gân mạng nhện xuất

    - Tĩnh mạch nổi loằn ngoằng dưới da.

    Những ai dễ bị suy giãn tĩnh mạch?
    - Nữ nhiều hơn nam, do bệnh lý có liên quan đến tác động của nội tiết. Những người trong gia đình có mẹ hay chị bị bệnh dễ bị suy tĩnh mạch hơn.
    - Phụ nữ có thai, sau sanh, hoặc dùng thuốc ngừa thai.
    - Người làm nghề đứng nhiều như: giáo viên, nhân viên bán hàng, bác sĩ phẫu thuật, cảnh sát giao thông, thợ dệt…
    - Người ngồi nhiều 1 chỗ ít đi lại như: nhân viên văn phòng, tài xế...
    - Người béo phì.
    - Người ăn ít chất xơ, hay bị táo bón.
    - Bệnh nhân sau những cuộc mổ lớn, kéo dài như mổ đẻ, mổ xương chấn thương, mổ niệu…
    - Người phải nằm bất động lâu như sau khi bị tai biến mạch máu não, bó bột…
    - Người làm việc trong môi trường nóng ẩm và liên tục đứng, ít đi lại.

    Bảy cấp độ suy giãn tĩnh mạch theo phân loại của Hội Tĩnh Mạch Học Thế Giới

    - Cấp độ 1: Chân thường xuyên bị tê, nặng, mỏi...

    - Cấp độ 2: Tĩnh mạch giãn, tĩnh mạch mạng nhện nhỏ li ti bắt đầu nổi dưới da vùng mắt, cá chân, vùng đùi...

    - Cấp độ 3: Tĩnh mạch giãn lớn, nổi ngoằn ngoèo giống các cuộn dây thừng dưới bề mặt da chân, đường kính các tĩnh mạch giãn trên 3mm

    - Cấp độ 4: Chân bị phù và phù nhiều khi đứng nhiều, phù nhiều vào buổi chiều tối

    - Cấp độ 5: Da chân bắt đầu đổi màu, cụ thể: da vùng cẳng chân sẫm màu, xơ bì, sừng hóa, chân bị phù...

    - Cấp độ 6: Chân bắt đầu bị lở loét, đặc biệt là vùng mắt cá chân

    - Cấp độ 7: Chận bị lỡ loét nặng, các vết loét điều trị mãi không lành

    [​IMG]

    Một số biện pháp khá hữu hiệu để phòng bệnh suy và giãn tĩnh mạch:

    - Hạn chế đứng hoặc đi lại nhiều quá.

    - Nên tập đi bộ chậm hay bơi lội 30 phút mỗi ngày.

    - Tránh béo phì.

    - Chế độ ăn nhiều chất xơ và vitamin, đặc biệt là vitamin C.

    - Không mặc quần áo chật quá, không đi giày cao gót.

    - Nơi làm việc phải thoáng mát.

    - Không sử dụng thuốc ngừa thai hay sinh đẻ quá nhiều lần.

    Các phương pháp điều trị:

    Có 5 phương pháp điều trị chính nhằm kiểm soát hay chặn đứng sự trào ngược, loại bỏ trào ngược từ các tĩnh mạch nhánh và từ các mạch nối, cuối cùng là ngăn ngừa sự tràn ngập mô kẽ do dịch thấm ra từ các vi quản.

    - Phòng ngừa: phương pháp này nhằm chặn đứng sự trào ngược và làm cho các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn. Bao gồm: để chân cao khi nằm nghỉ, tập cơ mạnh hơn, tránh đứng hay ngồi lâu, mang vớ thun hay quấn chân bằng băng thun, sửa lại vị trí bàn chân đối với các dị tật, tránh béo phì, tập hít thở sâu, ăn chế độ có nhiều chất xơ để tránh táo bón…

    - Băng ép nhằm phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu thông qua hệ thống xuyên, giảm đường kính của lòng tĩnh mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ ngơi cũng như khi gắng sức.

    - Điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch như: Daflon, Rutin C, Veinamitol… nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch. Một số thầy thuốc chuyên khoa còn áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng mạch máu.

    - Phẫu thuật với hai phương pháp chính: lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn gọi là phương pháp Stripping bằng một dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch như chúng ta làm lòng gà và phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để có tỉ lệ tái phát thấp nhất. Ngoài ra, hiện nay người ta còn áp dụng phương pháp làm lạnh với Nitơ lỏng âm 900C để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông trong lòng tĩnh mạch, tuy nhiên phương pháp này cho tỉ lệ tái phát khá cao đến 30% các trường hợp.

    Xem thêm sản phẩm đông y: http://duocvanxuan.com.vn/san-pham/duoc-van-xuan
     
    Đang tải...

Chia sẻ trang này